TÌNH HUỐNG PHÁP CHẾ DOANH NGHIỆP [SỐ 8]: THỬ VIỆC QUÁ THỜI HẠN
Công ty hoạt động trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ. Vì đang trong giai đoạn mở rộng hoạt động, doanh nghiệp cần tuyển dụng số lượng lớn nhân sự trong thời gian ngắn. Áp lực tiến độ khiến các phòng ban chủ động đề xuất nhu cầu tuyển dụng và phương án thử việc theo hướng linh hoạt để nhanh chóng bổ sung nguồn lực.
Nhân viên C được tuyển vào vị trí nhân viên kinh doanh và bắt đầu làm việc theo chế độ thử việc. Công ty có thỏa thuận rằng sau thời gian thử việc, C sẽ được ký hợp đồng lao động chính thức với thời hạn 12 tháng. Tuy nhiên, thời gian thử việc kéo dài đến 3 tháng, vượt quá thời hạn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian này, C làm đầy đủ công việc theo bảng mô tả công việc giống nhân viên chính thức, “chạy” doanh số, tham gia đóng góp đủ “chỉ tiêu kinh doanh” và chịu sự quản lý tương tự như nhân viên chính thức, nhưng không được hưởng đầy đủ quyền lợi tương ứng mà nhân viên chính thức được hưởng.
Khi thị trường biến động, ngay ở tháng thứ 3 làm việc, C không đạt chỉ tiêu trong tháng. Quản lý cho rằng C không hoàn thành công việc và yêu cầu Phòng Nhân sự ra quyết định chấm dứt hợp đồng thử việc. Không đồng ý với quyết định này, C khởi kiện doanh nghiệp tại tòa án, cho rằng doanh nghiệp đã kéo dài thời gian thử việc trái quy định và chấm dứt quan hệ lao động không đúng pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Sau khi đánh giá chứng cứ, Tòa án nhận định: (i) đối với chức danh cần trình độ từ cao đẳng trở lên, thời gian thử việc không quá 60 ngày; căn cứ thỏa thuận ban đầu, C đã trở thành người lao động của doanh nghiệp theo hợp đồng lao động 12 tháng, căn cứ theo Án lệ số 20/2018/AL ngày 17/10/2018; (ii) doanh nghiệp chưa ban hành quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc nên không có căn cứ pháp lý để chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc, theo điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019. Kết quả, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của C, buộc doanh nghiệp bồi thường 02 tháng tiền lương, trả lương và đóng bảo hiểm cho thời gian C không làm việc và buộc Công ty nhận C trở lại làm việc.

Từ sự việc trên, trong vai trò là Luật sư tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp, Luật sư tại Share Lawyers có một số ý kiến như sau:
Về rủi ro của doanh nghiệp:
Doanh nghiệp chịu thiệt hại lớn về tài chính, bao gồm bồi thường, trả lương, chi phí phát sinh và chi phí tố tụng. Uy tín của doanh nghiệp bị ảnh hưởng khi quyết định của lãnh đạo bị xác định là trái pháp luật. Nội bộ tốn thời gian xử lý tranh chấp và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các tranh chấp tương tự.
Về nghiệp vụ của Pháp chế:
Khi tư vấn, Pháp chế phải trả lời các nội dung yêu cầu tư vấn từ lãnh đạo, các phòng ban, và kết hợp làm rõ, xác định đúng bản chất pháp lý của tình huống, tìm nguyên nhân phát sinh vấn đề, mở rộng yêu cầu theo hướng bao quát rủi ro tương tự, để đề xuất phương án xử lý phù hợp. Với loại việc này, pháp chế cần yêu cầu cung cấp và kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ, kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu như hợp đồng thử việc, quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc, tài liệu chứng minh kết quả công việc của người lao động, biên bản nhắc nhở khi không hoàn thành công việc, đánh giá khả năng cải thiện kết quả công việc,…. Đồng thời, Pháp chế phải rà soát đầy đủ căn cứ pháp lý, điều kiện và thủ tục pháp lý bắt buộc phải thực hiện; cảnh báo rõ rủi ro cho công ty khi không đủ điều kiện để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và kiến nghị phương án xử lý phù hợp. Nếu không thực hiện tốt, doanh nghiệp rất dễ quyết định sai và làm phát sinh rủi ro pháp lý.
Bài viết liên quan:
-
[BẢN TIN PHÁP LÝ] SỬA ĐỔI NGHỊ ĐỊNH SỐ 168/2025/NĐ-CP VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
-
TÌNH HUỐNG PCDN [SỐ 10]: THIẾU SÓT TRONG PHÂN QUYỀN NỘI BỘ
-
TÌNH HUỐNG PCDN [SỐ 9]: XÂY DỰNG ĐIỀU KHOẢN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG
-
TÌNH HUỐNG PCDN [SỐ 7]: KHÔNG CÓ THẨM QUYỀN KÝ KẾT HỢP ĐỒNG
-
TÌNH HUỐNG PCDN [SỐ 6]: RỦI RO KHI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG HỢP ĐỒNG
-
TÌNH HUỐNG PCDN [SỐ 5]: CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI PHÁP LUẬT KHI DOANH NGHIỆP THAY ĐỔI CƠ CẤU
