TÌNH HUỐNG PHÁP CHẾ SỐ 9: XÂY DỰNG ĐIỀU KHOẢN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG TỪ VI PHẠM NGHĨA VỤ CUNG CẤP BẢO LÃNH

Doanh nghiệp là chủ đầu tư của các tòa nhà văn phòng, tiến hành ký hợp đồng thi công với nhà thầu. Theo thỏa thuận, để triển khai hợp đồng, nhà thầu phải thực hiện thủ tục lần 1 bao gồm bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, văn bản đề nghị tạm ứng kèm theo danh mục thiết bị tập kết và danh sách nhân sự trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ký hợp đồng. Việc hoàn thành hồ sơ tạm ứng là điều kiện để chủ đầu tư giải ngân và triển khai các nghĩa vụ tiếp theo của hợp đồng.

Trong quá trình ký kết, lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng việc nộp hồ sơ tạm ứng và bảo lãnh chỉ là thủ tục ban đầu, có thể linh hoạt xử lý trong quá trình thực hiện, nên không chú trọng việc xây dựng cơ chế xử lý khi nhà thầu không thực hiện đúng thời hạn. Hợp đồng đã ký nhưng không có điều khoản ghi nhận rõ về quyền chấm dứt trong trường hợp nhà thầu chậm hoặc không cung cấp bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng.

Sau khi ký hợp đồng, nhà thầu không tập kết đủ thiết bị theo danh mục đã cam kết, đồng thời không được ngân hàng cấp bảo lãnh tạm ứng và bảo lãnh thực hiện hợp đồng, dẫn đến việc không thể hoàn thiện hồ sơ tạm ứng theo thời hạn 05 ngày. Việc nộp hồ sơ bị kéo dài nhiều lần. Do chưa có tạm ứng, các điều khoản tiếp theo của hợp đồng không được kích hoạt, dẫn đến việc triển khai thi công bị đình trệ.

Chủ đầu tư buộc phải tìm nhà thầu khác để thay thế. Tuy nhiên, do giá cả thị trường tăng, chi phí thi công được báo giá cao hơn trên 20% so với hợp đồng đã ký với nhà thầu trước đó. Khi rà soát lại hợp đồng, doanh nghiệp không tìm thấy điều khoản cho phép chấm dứt hợp đồng trong trường hợp nhà thầu không cung cấp bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, dẫn đến việc doanh nghiệp rơi vào thế bị động khi xử lý tình huống, không biết xử lý ra sao.

Từ sự việc trên, trong vai trò là Luật sư tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp và có kinh nghiệp dày dặn về các hợp đồng xây dựng, Luật sư tại Share Lawyers có một số ý kiến như sau:

Về rủi ro của doanh nghiệp:

Rủi ro lớn nhất không nằm ở việc nhà thầu chậm nộp hồ sơ bảo lãnh tạm ứng, mà ở việc doanh nghiệp không có cơ sở rõ ràng để tự tin “thoát hợp đồng”. Rủi ro phát sinh, doanh nghiệp có thể bị kéo dài tiến độ, rơi vào tình thế phải lựa chọn giữa tiếp tục hối thúc và chờ đợi nhà thầu, hoặc chấp nhận rủi ro pháp lý khi chấm dứt hợp đồng. Vì chậm triển khai, nên khi có biến động giá thị trường làm phát sinh chi phí thay thế cao hơn, doanh nghiệp mất khả năng kiểm soát chi phí đầu tư do bị “kẹt” trong một hợp đồng đang có khả năng tranh chấp.

Để hạn chế rủi ro, doanh nghiệp tương tự, khi không phải là doanh nghiệp có chuyên môn về xây dựng, cần có nhân sự phụ trách pháp chế có kinh nghiệm hoặc được tư vấn bởi luật sư có chuyên môn, để làm rõ điều kiện tạm ứng như là điều kiện tiên quyết để triển khai hợp đồng; xây dựng cơ chế rõ ràng để chấm dứt hợp đồng khi nhà thầu không đáp ứng điều kiện, vi phạm nghĩa vụ cụ thể và thỏa thuận cụ thể về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

Về nghiệp vụ của Pháp chế:

Doanh nghiệp trong tình huống chưa nhận diện đúng vai trò pháp lý của điều kiện tạm ứng và bảo lãnh trong cấu trúc hợp đồng. Pháp chế cần phát hiện những nghĩa vụ này không phải là thủ tục mà là điều kiện pháp lý để thực hiện hợp đồng trên thực tế. Trên cơ sở đó, khi tham gia đàm phán, soạn thảo hoặc rà soát hợp đồng, Pháp chế cần xây dựng điều khoản mà theo đó, việc nhà thầu không hoàn thành nghĩa vụ, trong đó có nghĩa vụ nộp hồ sơ tạm ứng trong thời hạn xác định là căn cứ để chủ đầu tư đơn phương chấm dứt hợp đồng. Ngoài ra, Pháp chế cần bổ sung quyền của chủ đầu tư được chủ động thay thế nhà thầu và yêu cầu nhà thầu bồi thường phần chi phí chênh lệch phát sinh nếu nhà thầu vi phạm dẫn đến chấm dứt hợp đồng.

Để lại một bình luận